
Trong hệ thống pháp luật, việc xác định trách nhiệm hình sự của người bị bệnh tâm thần không chỉ dựa trên hành vi phạm tội mà còn phải xem xét tình trạng tâm thần của họ tại thời điểm thực hiện hành vi.
Vấn đề này không chỉ mang tính lý thuyết mà còn ảnh hưởng thực tế đến việc xử lý các vụ án, bảo vệ quyền lợi của người bệnh tâm thần, đồng thời bảo đảm công lý và trật tự xã hội.
Điều này đặt ra câu hỏi: Liệu người bị bệnh tâm thần có phải chịu trách nhiệm Hình sự khi thực hiện các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội không?
Trong bài viết này, Ký sự Luật sư sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, xin mời các Bạn tham khảo!
Trước hết, người bị tâm thần là gì?
Bệnh tâm thần: Là một tình trạng sức khỏe tâm thần nghiêm trọng, gây ra những thay đổi bất thường trong suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của một người.
Căn cứ Khoản 1, Điều 22 Bộ Luật Dân sự 2015 quy định về mất năng lực hành vi dân sự như sau:
“ 1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Theo quy định trên, dựa vào kết quả trưng cầu giám định pháp y để Tòa án xác định một người có bị tâm thần hay không.

Loại trừ trách nhiệm Hình sự cho người bị bệnh tâm thần
Căn cứ Điều 21 Bộ luật Hình sự 2015 có thể thấy:
Để được loại trừ trách nhiệm hình sự, người có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội phải đáp ứng được đồng thời hai yếu tố:
– Người phạm tội phải đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác.
– Bệnh này phải khiến người đó mất khả năng nhận thức hoặc kiểm soát hành vi của mình tại thời điểm phạm tội.
Tuy nhiên, pháp luật vẫn có những quy định xử lý để đề phòng đối với trường hợp này căn cứ theo Khoản 1, Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định như sau:
“Điều 49. Bắt buộc chữa bệnh
1. Đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi mắc bệnh quy định tại Điều 21 của Bộ luật này, Viện kiểm sát hoặc Tòa án căn cứ vào kết luận giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có thể quyết định đưa họ vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
Theo đó, người mắc bệnh tâm thần khi thực hiện hành vi phạm tội sẽ được đưa vào một cơ sở điều trị chuyên khoa để bắt buộc chữa bệnh.
Căn cứ kết luận giám định pháp y tâm thần, Viện kiểm sát quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn điều tra, truy tố; Tòa án quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Vậy trách nhiệm Hình sự mà người bị bệnh tâm thần phải chịu là gì?
Theo Điều 49 Bộ luật Hình sự 2015, người bị bệnh tâm thần có trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định:
– Người phạm tội có năng lực: Nếu phạm tội khi có năng lực trách nhiệm hình sự nhưng sau đó bị bệnh nặng, Tòa án có thể quyết định đưa họ vào cơ sở điều trị. Khi khỏi bệnh, họ có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
– Người đang chấp hành án: Nếu người đang thi hành án mà mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức, họ cũng có thể được điều trị. Sau khi khỏi bệnh, nếu không có lý do khác, họ phải tiếp tục chấp hành hình phạt.
– Trường hợp không được miễn trách nhiệm: Người mắc bệnh tâm thần sẽ không được miễn trách nhiệm nếu họ thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái bình thường mà sau đó mới mất khả năng nhận thức. Nếu chỉ bị hạn chế năng lực hành vi, họ vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong các vụ án mà có căn cứ cho rằng người phạm tội mắc bệnh tâm thần, cơ quan điều tra phải tiến hành điều tra, làm rõ các vấn đề theo quy định tại khoản 1, điều 448, Bộ luật tố tụng hình sự 2015 như sau:
“1. Đối với vụ án mà có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra phải làm sáng tỏ:
a) Hành vi nguy hiểm cho xã hội đã xảy ra;
b) Tình trạng tâm thần và bệnh tâm thần của người có hành vi nguy hiểm cho xã hội;
c) Người có hành vi nguy hiểm cho xã hội có mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình hay không.”
Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp phạm tội giả vờ mắc bệnh tâm thần để trốn tội. Các cơ quan điều tra cần làm rõ tình trạng tâm thần của người phạm tội theo quy định pháp luật. Nhà nước cần có biện pháp xử lý nghiêm những cá nhân tiếp tay cho việc giả bệnh nhằm tránh trách nhiệm hình sự.
