
Trong các giao dịch thương mại, việc chậm thanh toán là một tình huống không hiếm gặp, đặc biệt trong các hợp đồng có giá trị lớn và thời gian thanh toán kéo dài. Để bảo vệ quyền lợi của bên bị vi phạm, pháp luật quy định rõ ràng về lãi suất chậm trả trong hợp đồng thương mại.
Vậy lãi suất chậm trả được hiểu như thế nào? Trường hợp nào thì được miễn trả lãi suất chậm trả?
Trong bài viết này, Ký sự Luật sư sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, xin mời các Bạn tham khảo!

Trước hết, hợp đồng thương mại là gì?
Căn cứ Khoản 1, Điều 3, Luật Thương mại 2005 định nghĩa về hoạt động thương mại như sau:
“1. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.”
Pháp luật hiện hành không quy định rõ định nghĩa Hợp đồng thương mại.
Tuy nhiên, dựa vào Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015, có thể hiểu: Hợp đồng thương mại là sự thỏa thuận giữa các bên (thương nhân hoặc bên liên quan) nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ trong hoạt động thương mại vì mục đích sinh lợi.
Nghĩa vụ trả lãi suất chậm trả trong hợp đồng thương mại
– Theo Điều 306 Luật Thương mại 2005, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu trả lãi suất chậm trả, áp dụng theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường hoặc theo thỏa thuận giữa các bên.
– Lãi suất thỏa thuận không vượt quá 20%/năm ( theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015). Nếu vượt quá, phần vượt không có hiệu lực.
– Trường hợp không thỏa thuận, lãi suất sẽ do Tòa án xác định dựa trên mức lãi suất nợ quá hạn trung bình tại thời điểm thanh toán.

Miễn trách nhiệm trả lãi suất chậm trả
Căn cứ Điều 294 Luật Thương mại 2005, quy định về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm như sau:
– Các trường hợp miễn trách nhiệm gồm:
+ Sự kiện miễn trách nhiệm đã được thỏa thuận.
+ Sự kiện bất khả kháng.
+ Vi phạm do lỗi hoàn toàn của bên kia.
+ Vi phạm do thực hiện quyết định của cơ quan nhà nước mà không thể lường trước.
– Bên vi phạm phải chứng minh thuộc các trường hợp miễn trách nhiệm để được miễn trả lãi suất chậm trả.
Theo đó, trường hợp một bên chậm trả nghĩa vụ thanh toán trong hợp đồng thương mại nhưng nguyên nhân dẫn đến chậm trả thuộc một trong các trường hợp đã nêu thì được miễn trách nhiệm trả lãi suất chậm trả.
Tuy nhiên, bên chậm trả nghĩa vụ thanh toán phải có trách nhiệm cung cấp các chứng cứ chứng minh được mình thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm trên.
Có thể Bạn quan tâm:
- Dịch vụ Luật sư Tư vấn giải quyết tranh chấp Kinh doanh Thương mại;
- Các điều kiện phát hành Trái phiếu Doanh nghiệp là gì?

Ví dụ về trường hợp Tòa án áp dụng mức lãi suất nợ quá hạn trung bình:
Tại Bản án số 42/2020/KDTM-ST ngày 25/9/2020 của Toà án nhân dân Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội về việc “Tranh chấp yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả”, nguyên đơn là Công ty HN khởi kiện Công ty TT yêu cầu trả lãi chậm trả là 171.920.809 đồng, tương đương với mức lãi suất chậm trả 0.07%/ngày.
Tại phiên toà, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nhưng điều chỉnh mức lãi suất 20% để tính lãi trên số tiền chậm trả, số tiền lãi chậm trả Công ty TT phải trả nguyên đơn là 131.994.372 đồng.
Toà án nhận định: Mức lãi suất 0,07%/ngày theo Điều 4 của Hợp đồng mua bán số 1204/HĐMB-TM/2017 ngày 12/4/2017 tương đương 25,2%/năm vi phạm quy định về lãi suất. Tại phiên tòa, nguyên đơn điều chỉnh mức lãi suất là 20%/năm để tính lãi chậm trả cũng không phù hợp quy định pháp luật.
Do đó cần áp dụng lãi suất nợ quá hạn trung bình theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại để xác định số tiền lãi do Công ty TT chậm thanh toán.
Theo cung cấp mức lãi suất cho vay áp dụng tại thời điểm giải quyết vụ án của Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam lần lượt là: 6%/năm –12%/năm; 9%/năm –11%/năm; 9%/năm –12%/năm.
Như vậy mức lãi suất nợ quá hạn trung bình là ((6+ 12 + 9 + 11 + 9 + 12): 6) x 150% = 14,75%/năm.
Trong trường hợp này, Toà án đã vận dụng Khoản 1, Điều 468, Bộ luật Dân sự 2015 để loại bỏ mức lãi suất chậm trả theo thoả thuận vượt giới hạn và áp dụng mức theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường quy định tại Điều 306, Luật Thương mại 2005, hướng dẫn chi tiết tại Điều 11, Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP.
