Chồng có được ly hôn khi vợ đang mang thai không?

Hôn nhân không phải lúc nào cũng trọn vẹn như mong muốn, và trong một số trường hợp, mâu thuẫn giữa vợ chồng có thể dẫn đến quyết định ly hôn.
Vậy khi người vợ đang mang thai, việc ly hôn có bị hạn chế theo quy định pháp luật hay không?
Liệu người chồng có quyền đơn phương ly hôn trong giai đoạn nhạy cảm này?
Trong bài viết này, Ký sự Luật sư sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, xin mời các Bạn tham khảo!

Trước hết, ly hôn là gì?
Theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án.”
Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền nhân thân trong hôn nhân như sau:
“Điều 39. Quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình
- Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.
…”
Ai có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn?
Căn cứ tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, người có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn gồm:
“Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn
- Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.
- Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Có thể bạn quan tâm:

Vậy chồng có được ly hôn khi vợ đang mang thai không?
Theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, chồng không có quyền đơn phương ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của phụ nữ trong giai đoạn nhạy cảm, đảm bảo sự ổn định tinh thần và sức khỏe cho cả mẹ và bé.
Tuy nhiên, pháp luật không cấm người vợ được quyền yêu cầu ly hôn. Nếu cuộc hôn nhân trở nên trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài và ảnh hưởng đến quyền lợi của người vợ hoặc thai nhi, người vợ có thể nộp đơn ly hôn đơn phương. Trong trường hợp này, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết theo quy định pháp luật.
– Nếu chồng không đồng ý ly hôn, người vợ có thể căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 để yêu cầu ly hôn đơn phương. Theo đó, Tòa án sẽ giải quyết ly hôn khi:
- Việc hòa giải tại Tòa án không thành và có căn cứ cho thấy vợ/chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ/chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài.
- Một bên vợ hoặc chồng bị tuyên bố mất tích.
- Người vợ có thể chứng minh chồng có hành vi bạo lực gia đình ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của mình hoặc của con.
– Trong trường hợp vợ chồng ly hôn khi con còn nhỏ, pháp luật cũng có quy định rõ ràng về quyền nuôi con. Cụ thể, theo khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014:
“Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”
Như vậy, nếu vợ chồng ly hôn khi con dưới 3 tuổi, thông thường người mẹ sẽ là người trực tiếp nuôi con, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc người mẹ không đủ điều kiện chăm sóc con.
