
Trong đời sống hôn nhân, vấn đề sở hữu tài sản chung luôn là một nội dung được nhiều người quan tâm. Theo quy định pháp luật, vợ chồng có quyền ngang nhau trong việc quản lý, sử dụng và định đoạt tài sản chung.
Tuy nhiên, không phải ai cũng hiểu rõ những loại tài sản nào bắt buộc phải đứng tên cả hai vợ chồng để đảm bảo quyền lợi và tránh những tranh chấp không đáng có sau này.
Vậy, những tài sản chung nào phải đứng tên vợ và chồng?
Trong bài viết này, Ký sự Luật sư sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, xin mời các Bạn tham khảo!

Trước hết, Tài sản là gì?
Căn cứ theo Điều 105 Bộ luật dân sự 2015, quy định như sau:
“Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”
Theo đó, tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Trong đó, bất động sản (Theo Điều 107 Bộ luật Dân sự 2015) bao gồm:
– Đất đai;
– Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
– Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
– Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Còn động sản là những tài sản không phải là bất động sản.
Có thể Bạn quan tâm:
- Thủ tục công chứng tài sản trước hôn nhân thế nào?
- Dịch vụ Luật sư Ly hôn Uy tín tại Đà Nẵng dành cho bạn!

Quy định về xác lập chế độ tài sản của vợ chồng
Căn cứ theo khoản 1 Điều 28 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, có 02 cách thức xác lập chế độ tài sản vợ chồng:
– Vợ chồng áp dụng chế độ tài sản theo luật định;
– Vợ chồng thỏa thuận về chế độ tài sản.
Chế độ tài sản vợ chồng theo Luật định
Theo Điều 7 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định áp dụng khi:
– Vợ chồng không lựa chọn chế độ tài sản thỏa thuận, hoặc
– Thỏa thuận về chế độ tài sản bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định bao gồm tài sản chung và tài sản riêng, cụ thể như sau:
Tài sản chung của vợ chồng (Quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014), gồm:
– Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân:
- Do vợ hoặc chồng tạo ra từ lao động, kinh doanh.
- Hoa lợi, lợi tức từ tài sản chung.
- Tài sản được thừa kế chung hoặc tặng cho chung.
– Quyền sử dụng đất: Có được sau khi kết hôn, trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng.
Lưu ý: Nếu không chứng minh được tài sản tranh chấp là tài sản riêng, tài sản đó được coi là tài sản chung.

Tài sản riêng của vợ, chồng (Quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình), gồm:
– Tài sản có trước hôn nhân.
– Tài sản được thừa kế riêng, tặng cho riêng.
– Tài sản được chia riêng hoặc tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu cá nhân.
– Tài sản hình thành từ tài sản riêng (bao gồm hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng).
Tài sản chung và tài sản riêng cần được xác định rõ để tránh tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của vợ chồng.
Chế định tài sản vợ chồng theo thỏa thuận:
Căn cứ theo Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng như sau:
– Thỏa thuận phải lập trước khi kết hôn.
– Hình thức: Văn bản có công chứng hoặc chứng thực.
– Hiệu lực: Phát sinh từ ngày đăng ký kết hôn.
Lưu ý: Văn bản thỏa thuận là tài liệu riêng, không ghi nhận trong Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, không bắt buộc để hoàn tất thủ tục đăng ký kết hôn.
Căn cứ theo Điều 48 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nội dung thỏa thuận như sau:
– Tài sản được xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng;
– Quyền, nghĩa vụ liên quan đến tài sản chung, tài sản riêng;
– Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;
– Các nội dung khác liên quan.
Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định.

Quy định về đăng ký tài sản chung của vợ chồng
Theo Điều 34 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Nghị định 126/2014/NĐ-CP, tài sản chung của vợ chồng bắt buộc phải đăng ký quyền sở hữu và ghi tên cả hai vợ chồng, bao gồm:
– Quyền sử dụng đất.
– Các tài sản khác mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng.
Trường hợp tài sản chung đã được đăng ký nhưng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng:
– Vợ hoặc chồng có quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền cấp đổi giấy chứng nhận để ghi tên cả hai.
– Nếu có tranh chấp, việc giải quyết sẽ dựa trên các quy định tại Điều 26 và khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình.
Đối với tài sản được chia trong thời kỳ hôn nhân, bên nhận tài sản có quyền yêu cầu cấp lại giấy chứng nhận trên cơ sở thỏa thuận hoặc quyết định của Tòa án.
