
Trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển, nhiều công chức đang tìm kiếm các cơ hội để tăng thu nhập ngoài mức lương cố định.
Việc này không chỉ liên quan đến quyền lợi cá nhân mà còn ảnh hưởng đến tính minh bạch và đạo đức công vụ.
Vậy theo quy định của pháp luật, công chức có được kinh doanh để tăng thu nhập không?
Trong bài viết này, Ký sự Luật sư sẽ giúp bạn đọc tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, xin mời các Bạn tham khảo!

Quy định về quy tắc ứng xử của công chức:
Căn cứ theo Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức 2008, sửa đổi, bổ sung 2019 quy định về Công chức như sau:
“2. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.”
Căn cứ khoản 2 Điều 20 Luật Phòng, chống tham nhũng 2018 quy định cán bộ, công chức, viên chức không được thực hiện những việc sau đây:
“2. Người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị không được làm những việc sau đây:
a) Nhũng nhiễu trong giải quyết công việc;
b) Thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, trừ trường hợp luật có quy định khác;
c) Tư vấn cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác ở trong nước và nước ngoài về công việc có liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật công tác, công việc thuộc thẩm quyền giải quyết hoặc tham gia giải quyết;
d) Thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã thuộc lĩnh vực mà trước đây mình có trách nhiệm quản lý trong thời hạn nhất định theo quy định của Chính phủ;
đ) Sử dụng trái phép thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
e) Những việc khác mà người có chức vụ, quyền hạn không được làm theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và luật khác có liên quan.”
Theo đó, công chức hoạt động trong cơ quan nhà nước không được phép kinh doanh dưới một số hình thức sau:
- Thành lập, quản lý doanh nghiệp tư nhân.
- Trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn.
- Trở thành thành viên hội đồng quản trị trong công ty cổ phần.
- Góp vốn là thành viên hợp danh của công ty hợp danh.
- Trở thành thành viên của hợp tác xã;
- Các hoạt động đầu tư, kinh doanh khác mà pháp luật không cấm.
Vậy công chức có thể kinh doanh dưới hình thức nào?
Dựa trên các quy định đã nêu về những việc công chức không được làm, có thể thấy, pháp luật Việt Nam hiện hành không cấm công chức kinh doanh qua một số hình thức sau:
– Góp vốn vào các loại hình doanh nghiệp với điều kiện không được làm phát sinh quyền điều hành quản lý doanh nghiệp đó;
– Góp vốn vào các doanh nghiệp không thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của công chức;
– Đăng ký Hộ kinh doanh cá thể quy định cụ thể tại khoản 1, Điều 79 Nghị định 01/2021/NĐ-CP như sau:
“Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ.
Có thể Bạn quan tâm:

Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh.”
Theo đó, hộ kinh doanh không phải là doanh nghiệp tư nhân hay các loại hình công ty khác.
Vậy, nhìn chung công chức vẫn có thể thực hiện một vài hoạt động kinh doanh để tăng nguồn thu nhập, miễn là các hoạt động đó không liên quan hoặc gây ảnh hưởng đến công việc chính, không vi phạm đạo đức và pháp luật.

